• BÁN HÀNG TOÀN QUỐC0913 493 679
  • Kinh Doanh 10977 89 94 25
  • Kinh Doanh 20913 493 679

Giải thích VN: Có hai phương pháp được cộng đồng Internet chấp nhận khi đóng gói và truyền tải gói dữ liệu IP qua một chuỗi các liên kết điểm-điểm. SLIP (Serial Line Internet Protocol) là phương pháp thứ nhất, và PPP (Point-to-Point Protocol: Giao thức kết nối điểm-điểm) là phương pháp thứ hai. Trong khi SLIP là giao thức nguyên thủy, PPP vẫn chiếm ưu thế hơn bởi vì nó hoạt động chung với các giao thức khác như IPX (Internetwork Packet Exchange). PPP được định nghĩa bởi IETF trong tài liệu RFC từ số 1661 đến 1663.

 

Giao thức liên kết điểm-điểm-PPP

Giải thích VN: Có hai phương pháp được cộng đồng Internet chấp nhận khi đóng gói và truyền tải gói dữ liệu IP qua một chuỗi các liên kết điểm-điểm. SLIP (Serial Line Internet Protocol) là phương pháp thứ nhất, và PPP (Point-to-Point Protocol: Giao thức kết nối điểm-điểm) là phương pháp thứ hai. Trong khi SLIP là giao thức nguyên thủy, PPP vẫn chiếm ưu thế hơn bởi vì nó hoạt động chung với các giao thức khác như IPX (Internetwork Packet Exchange). PPP cung cấp các nối kết từ bộ định tuyến này đến bộ định tuyến kia, từ host đến bộ định tuyến, và từ host đến host. PPP được sử dụng phổ biến cho các liên kết Internet trên các đường dây quay số. Ví dụ, các người dùng tại nhà quay số đến các ISP (Internet service providers) tại địa phương của họ. Sau khi modem đã tạo ra một nối kết, một phiên PPP được thiết lập giữa hệ thống của người dùng và nhà cung cấp dịch vụ.

Dịch vụ kênh thuê riêng cáp quang điểm nối điểm (Point to Point) hay còn gọi là cáp thẳng, được các nhà mạng (ISP) cung cấp trên thị trường phổ biến từ 2007 đến nay. Tuy nhiên, trên thị trường hầu như chỉ còn rất ít ISP cung cấp dịch vụ P2P này trong đó có FPT FTI, một phần do tốn kém tài nguyên Core, chi phí đầu tư cao và khả năng support không được nhanh như các kênh Gigawan VPN/MPLS(CMC TI), E-metro (FPT), Megawan(VNPT)…

Với tính năng bảo mật tuyệt đối, tốc độ đường truyền cao 100Mbps/1000Mbps trên sợi quang trắng vật lý. Các Doanh nghiệp khối ngân hàng, bảo hiểm, tài chính, chứng khoán…rất ưa chuộng sử dụng cáp thẳng điểm nối điểm. Song, với kênh này khách hàng thường phải chi phí cao hơn so với các kênh dịch vụ truyền số liệu còn lại. Khả năng support kỹ thuật khó khăn hơn do phải dò ngược chiều quang, nên xu thế nhiều khách hàng chuyển sang dùng VPN layer 3 or VPN layer 2. Với kênh truyền số liệu P2P, FPT FTI cam kết xử lý lỗi kỹ thuật tối đa 2h, lỗi đứt cáp 6h.

Hạ tầng mạng của VNPT hiện nay gồm có: 64 tỉnh thành Việt Nam

Với hạ tầng mạng hiện đại được đầu tư đồng bộ trên các công nghệ GPON, NG-SDH, WDM… VNPT cung cấp các dịch vụ chất lượng đảm bảo, độ ổn định cao-Mạng truy nhập 100%cáp quang dựa trên thiết bị đồng bộ, công nghệ GPON của Alcatel-Lucent, mạng CoreIP đồng bộ của hãng Juniper, hệ thống quản lý mạng tiên tiến có khả năng quản lý, giám sát cảnh báo đến tận thiết bị đầu cuối đặt tại nhà khách hàng.

Mạng truyền dẫn SDH (Alcatel, Fujitsu) Ring cấp I 10Gbps, Ring cấp II 2.5Gbps, Ring cấp III STM1/4.
VNPT sở hữu trực tiếp hơn 18500 km cáp quang tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Ngoài ra, tại các tỉnh thành trên cả nước FPT FTI cũng có những hợp tác chia sẻ hạ tầng cung cấp dịch vụ với các đối tác lớn trong ngành viễn thông, an ninh và truyền hình.
Tốc độ mạng trục Backbone Bắc – Nam có khả năng cung cấp 10Gbps, kết nối trực tiếp Internet quốc tế qua tuyến cáp quang biển hiện đại nhất với dung lượng 2,5Gbps
Một số khách hàng lớn:

Ngân hàng Agribank, Techcombank, Vietinbank, Vietcombank, BIDV, Việt Nga Bank, Bắc Á, Habubank, HD bank, CK Thiên Việt, Artex, TVSI, SSI…

Thời gian triển khai 5-7 ngày